Étiquette : poésie vietnamienne

  • Poèmes de Hô Xuân Huong 4/4

    Nous terminons notre série de traductions consacrée à Hô Xuân Huong, avec trois poèmes dans lesquels la poétesse s’amuse à détourner le thème classique, d’inspiration taoïste, de description de paysages.

    Les vietnamophones pourront comparer avec la version vietnamienne, qui est une transcription des caractères nôm en écriture moderne, réalisée par Maurice Durand.

    Bui Xuân Phai

    Đèo Ba Dội

    Một đèo một đèo lại một đèo
    Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo
    Cửa son đỏ loét tùm hum nóc
    Hòn đá xanh rì lún phún rêu
    Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc
    Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo
    Hiền nhân quân tử ai là chẳng
    Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo

    Éloge des trois cols

    un col un col     encore un col
    louange à l’habile tailleur du relief abrupt
    ouverture     vermeille ô combien     luxuriant faîte
    perron rocheux vert profond     duvet de mousse
    oscillante branche     de pin     vent fougueux
    ruisselante     feuille de saule     rosée épanchée
    homme de vertu     honnête homme     qui renonce
    pieds harassés genoux moulus     ils persistent à gravir

    Động Hương Tích

    Bày đặt kia ai khéo khéo phòm
    Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom
    Người quen cõi phật chen chân xọc
    Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm
    Giọt nước hữu tình rơi thánh thót
    Con thuyền vô trạo cúi lom khom
    Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại
    Rõ khéo trời già đến dở dom

    La pagode Huong Tich

    L’œuvre d’un virtuose sans égal
    Une fente s’ouvre profonde pénétrante     profonde
    Porte de Bouddha : les fidèles percent la mêlée
    Les novices de la féerie s’en abîment les yeux
    L’eau goutte charme l’oreille chute limpide éclatante
    La barque pénètre     les rameurs courbent l’échine
    Que ce paysage paisible connaît de foules galantes
    Mais gare ! L’Inexorable pourrait s’en trouver mal.

    Hang các cớ

    Trời đất sinh ra đá một chòm
    Nứt ra đôi mảnh hỏm hòm hom
    Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn
    Luồng gió thông gieo vỗ phập phòm
    Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm
    Con đường vô ngạn tối om om
    Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc
    Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm

    La grotte de Cac Co

    Le Naturant érigea cette roche une masse
    Fendue en deux blocs fente pénétrante profonde profonde
    Visibles sous la mousse étale : les lèvres indolentes
    Les pins bruissent sous les gifles du vent coups sourds soupirs
    L’eau goutte tombe en délicieux clapotis
    Dans la fente s’engage un raidillon obscur touffeur
    Louons l’artiste émérite qui a sculpté ce bloc
    Habile à l’entr’ouvrir au vu de tous les indiscrets.


    Pour ne pas rater les prochaines publications, abonnez-vous maintenant à la newsletter de Lettres du Vietnam :

  • Poèmes de Hô Xuân Huong 3/4

    Nous continuons notre série de traductions consacrée à Hô Xuân Huong, avec quatre poèmes dont le fameux « L’éventail ».

    Les vietnamophones pourront comparer avec la version vietnamienne, qui est une transcription des caractères nôm en écriture moderne, réalisée par Maurice Durand.

    L'éventail de Hô Xuân Huong
    Bùi Xuân Phái, 1986

    Tự Tình (II)

    Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom
    Oán hận trông ra khắp mọi chòm
    Mõ thảm không khua mà cũng cốc
    Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om
    Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ
    Sau giận vì duyên để mõm mòm
    Tài tử văn nhân ai đó tá
    Thân này đâu đã chịu già tom

    Confidence (II)

    Les cris des coqs au loin déchirent l’air.
    L’œil parcourant tous les buissons, amère
    Je ne bats point le bois de mon chagrin :
    Pourquoi ce toc ? ni sonne le tocsin
    De ma peine pourtant quel tintamarre !
    Leur bruit d’abord ajoute à mon cafard
    Me fâche enfin contre la destinée
    Qui me laisse finir comme un fruit blet.
    Où êtes-vous, lettrés si talentueux ?
    Ce corps serait donc si voûté, si vieux.

    Đề Tranh tố nữ

    Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình?
    Chị cũng xinh mà em cũng xinh
    Đôi lứa như in tờ giấy trắng.
    Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh.
    Xiếu mai chi dám tình trăng gió,
    Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh,
    Còn thú vui kia sao chẳng vẽ,
    Trách người thợ vẽ khéo vô tình.

    Écrit sous un portrait

    Quel âge ont-elles donc mes chères demoiselles ?
    Une même beauté réunit les deux sœurs
    Cent de leurs traits pareils comme deux feuilles blanches
    Mille ans n’effaceront leur éternel printemps
    Fruits mûrs qui n’oseraient l’amour de vent de lune
    Saule et roseau promis au destin si indigne.
    Mais l’autre délice dont le trait est absent ?
    Blâmons le peintre habile et pourtant insensible !

    Vô âm nữ

    Mười hai bà mụ ghét chi nhau
    Đem cái xuân tình vứt bỏ đâu
    Rúc rích thây cha con chuột nhắt
    Vo ve mặc mẹ cái ong bầu
    Đố ai biết đó vông hay trốc
    Còn kẻ nào hay cuống với đầu
    Thôi thế thì thôi thôi cũng được
    Nghìn năm càng khỏi tiếng nương dâu

    À l’Asexuée

    Les douze fées à son berceau, pour une discorde aux motifs obscurs, allèrent planter son gentil jardinet en un lieu inconnu.

    Critch..critch.. le petit rat.. qu’il aille se faire voir !
    Bzz..Bzz.. ta mère ! le moucheron qui fait enfler.

    Je défie quiconque de trancher pour la feuille ou le tubercule. Quiconque d’en conclure au pétiole ou au périanthe.

    Soit ! C’est aussi bien, qu’il en soit ainsi : toute une vie exemptée du titre de bru.

    Vịnh cái quạt

    Mười bảy hay là mười tám đây
    Cho ta yêu dấu chẳng rời tay
    Mỏng dầy chừng ấy chành ba góc
    Rộng hẹp dường nào cắm một cây
    Càng nóng bao nhiêu thời càng mát
    Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày
    Hồng hồng má phấn duyên vì cậy
    Chúa dấu vua yêu một cái này.

    L’éventail en papier

    Il compte dix-sept ou.. même dix-huit qui sait
    Laissez-moi le chérir le garder bien en main
    Mince épais il s’ouvre son triangle impeccable
    Large étroit quelque forme on enfonce un tenon
    Il fait chaud davantage il vous donne fraîcheur
    On l’aime jour et nuit aucune lassitude
    Peau rosée joues rouges encollées de kaki
    Le Roi aime et la Cour vénère cette chose


    Rendez-vous le 22 février prochain pour découvrir la suite des poèmes de Hô Xuân Huong.

    Pour ne pas rater les prochaines publications, abonnez-vous maintenant à la newsletter de Lettres du Vietnam :

  • Poèmes de Hô Xuân Huong 2/4

    Nous continuons notre série de traductions consacrée aux poèmes de Hô Xuân Huong, avec cette fois deux joutes poétiques avec un certain Chiêu Hô.

    Les vietnamophones pourront comparer avec la version vietnamienne, qui est une transcription des caractères nôm en écriture moderne, réalisée par Maurice Durand.

    Mai Thu 1951
    Mai Thu, 1951

    Avec Chiêu Hô

    Trách Chiêu Hổ (I)

    Anh đồ tỉnh anh đồ say
    Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày
    Này này chị bảo cho mà biết
    Chốn ấy hang hầm chớ mó tay

    Reproche à Chiêu Hô (I)

    Mon maître est ivre ou mon maître est lucide
    Pourquoi vous taquinez la lune en plein midi ?
    Eh ! Eh ! je vous le dis c’est pour votre gouverne
    Dans l’antre du tigre ne mettez pas la main.

    Chiêu Hổ hoạ lại

    Này ông tỉnh này ông say
    Này ông ghẹo nguyệt giữa ban ngày
    Hang hầm ví bẵng không ai mó
    Sao có hầm con bỗng chốc tay ?

    Réplique de Chiêu Hô

    Tiens ! je suis ivre. Tiens ! je suis lucide.
    Tiens oui ! je taquine la lune en plein midi.
    Dans l’antre du tigre la main ne pourrais mettre ?
    Et ce petit tigre glissé dans votre main ?


    Trách Chiêu Hổ (II)

    Sao nói rằng năm lại có ba
    Trách người quân tử hẹn sai ra
    Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt
    Nhớ hái cho xin nắm lá đa

    Reproche à Chiêu Hô (II)

    Pourquoi promettre cinq et n’en mettre que trois ?
    Quoi ? Vous si distingué ne donnez pas le compte !
    À vos moments perdus montez donc voir la lune
    Avec une poignée de feuilles de banian.

    Chiêu Hổ hoạ lại

    Rằng gián thì năm quý có ba
    Bởi người thục nữ tính không ra
    Ừ rồi thong thả lên chơi nguyệt
    Cho cả cành đa lẫn củ đa

    Défense de Chiêu Hô

    En espèces sonnantes on a trois qui font cinq !
    Ô fille de vertu vous n’y trouvez le compte ?
    Bon ! aux moments perdus je monte voir la lune
    J’aurai toute une branche et les glands du banian.


    Rendez-vous le 15 février prochain pour découvrir la suite des poèmes de Hô Xuân Huong.

    Pour ne pas rater les prochaines publications, abonnez-vous maintenant à la newsletter de Lettres du Vietnam :

  • Poèmes de Hô Xuân Huong 1/4

    Nous commençons notre série de traductions consacrée aux poèmes de Hô Xuân Huong.

    Les vietnamophones pourront comparer avec la version vietnamienne, qui est une transcription des caractères nôm en écriture moderne, réalisée par Maurice Durand.1

    poèmes de Hô XUân Huong
    Portrait de HXH par Bùi Xuân Phái

    4 poèmes de Hô Xuân Huong

    Con ốc nhồi

    Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi
    Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi
    Quân tử có thương thì bóc yếm
    Xin đừng ngó ngoáy lỗ chôn tôi

    Éloge de l’escargot

    Les parents m’ont donné la vie d’un escargot
    Nuit et jour à rouler dans les herbes fétides.
    Mon Seigneur, par amour, levez donc l’opercule
    Mais de grâce ôtez votre doigt de mon trou.

    Lấy chồng chung

    Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
    Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
    Năm thì mười họa chăng hay chớ
    Một tháng đôi lần có cũng không
    Cố đấm ăn xôi xôi lại hẩm
    Cầm bằng làm mướn mướn không công
    Thân này ví biết đường này nhỉ
    Thà trước thôi đành ở vậy xong

    Partage de mari

    Maudit soit notre sort nous autres concubines
    À transir quand l’une tire la couverture
    Le petit oiseau est rare, au petit bonheur
    Une ou deux fois par mois jamais trois c’est tout un
    On adhère au riz gluant mais le riz est poisseux
    À gages du mari qui ne paie point de gages
    Ah ! si l’on avait su les tenants d’un tel sort
    Mieux valut se résoudre à vivre comme avant

    Khóc chồng làm thuốc

    Văng vẳng tai nghe tiếng khóc gì
    Thương chồng nên nỗi khóc tỉ ti
    Ngọt bùi thiếp nhớ mùi cam thảo
    Cay đắng chàng ơi vị quế chi
    Thạch nhũ trần bì sao để lại
    Quy thân liên nhục tẩm mang đi
    Dao cầu thiếp biết trao ai nhỉ
    Sinh ký chàng ơi tử tắc quy

    La veuve de l’apothicaire

    Lointaine..sourde..nette une voix pleure :
    « Par amour pour lui il convient d’étouffer mes sanglots
    Comme il me manque ! si doux sucré son bâton de réglisse
    Si amère piquante – oh cher époux – sa tige de cannelle !
    Les boutons la peau d’orange, torréfiés, sont à l’abandon
    L’angélique les grains de lotus, macérés, emportés !
    Le coupe-racines… à qui vais-je le transmettre ?
    Las ! La vie est un prêt et la mort un rendu. »

    Không chồng mà chửa

    Cả nể cho nên hoá dở dang
    Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng
    Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc
    Phận liễu sao đà nảy nét ngang
    Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa
    Mảnh tình một khối thiếp xin mang
    Quản bao miệng thế lời chênh lệch
    Không có, nhưng mà có, mới ngoan

    Éloge de la criminelle

    Trop de complaisance nous laisse inaccomplis.
    Savez-vous, mon amour, le chagrin qui m’afflige ?

    De notre destinée je ne vois point la tête
    Pourquoi mon sort de fille est-il soudain barré ?2

    Cette faute cent ans vous devrez la porter
    Le fruit de notre amour – souffrez que je le porte.

    Au diable l’opinion, ses paroles iniques
    Avoir l’un sans l’autre voilà qui est habile.


    Rendez-vous le 8 février prochain pour découvrir la suite des poèmes de Hô Xuân Huong.

    Pour ne pas rater les prochaines publications, abonnez-vous maintenant à la newsletter de Lettres du Vietnam :

    1. Maurice Durand : L’œuvre de la poétesse vietnamienne Hô Xuân Huong (EFEO, Paris, Adrien-Maisonneuve, 1968). Disponible en ligne sur Gallica. ↩︎
    2. Comme l’explique Maurice Durand, HXH joue dans ces 2 vers avec la formation des caractères nôm :
      – Le trait vertical, ou descendant, ajouté au caractère « ciel, destinée » 天 (thiên) en modifie le sens pour devenir « mari » 夫 (phu). Autrement dit, « je ne vois pas venir la réalisation de notre union comme mari et femme ».
      – Le trait horizontal ajouté au milieu du caractère 了 (liễu), désignant « le saule » et par une métaphore classique « la jeune fille », le transforme en caractère « enfant » 子 (tử), suggérant la grossesse. Autrement dit « par cette grossesse hors mariage, mon avenir est compromis ».
      Ces 2 exemples parmi d’autres prouvent que la transcription des caractères nôm en écriture alphabétique oblige à sacrifier certains jeux de mots visuels. ↩︎