Nous terminons notre série de traductions consacrée à Hô Xuân Huong, avec trois poèmes dans lesquels la poétesse s’amuse à détourner le thème classique, d’inspiration taoïste, de description de paysages.
Les vietnamophones pourront comparer avec la version vietnamienne, qui est une transcription des caractères nôm en écriture moderne, réalisée par Maurice Durand.
Bui Xuân Phai
Đèo Ba Dội
Một đèo một đèo lại một đèo Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo Cửa son đỏ loét tùm hum nóc Hòn đá xanh rì lún phún rêu Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo Hiền nhân quân tử ai là chẳng Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo
Éloge des trois cols
un col un col encore un col louange à l’habile tailleur du relief abrupt ouverture vermeille ô combien luxuriant faîte perron rocheux vert profond duvet de mousse oscillante branche de pin vent fougueux ruisselante feuille de saule rosée épanchée homme de vertu honnête homme qui renonce pieds harassés genoux moulus ils persistent à gravir
Động Hương Tích
Bày đặt kia ai khéo khéo phòm Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom Người quen cõi phật chen chân xọc Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm Giọt nước hữu tình rơi thánh thót Con thuyền vô trạo cúi lom khom Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại Rõ khéo trời già đến dở dom
La pagode Huong Tich
L’œuvre d’un virtuose sans égal Une fente s’ouvre profonde pénétrante profonde Porte de Bouddha : les fidèles percent la mêlée Les novices de la féerie s’en abîment les yeux L’eau goutte charme l’oreille chute limpide éclatante La barque pénètre les rameurs courbent l’échine Que ce paysage paisible connaît de foules galantes Mais gare ! L’Inexorable pourrait s’en trouver mal.
Hang các cớ
Trời đất sinh ra đá một chòm Nứt ra đôi mảnh hỏm hòm hom Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn Luồng gió thông gieo vỗ phập phòm Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm Con đường vô ngạn tối om om Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm
La grotte de Cac Co
Le Naturant érigea cette roche une masse Fendue en deux blocs fente pénétrante profonde profonde Visibles sous la mousse étale : les lèvres indolentes Les pins bruissent sous les gifles du vent coups sourds soupirs L’eau goutte tombe en délicieux clapotis Dans la fente s’engage un raidillon obscur touffeur Louons l’artiste émérite qui a sculpté ce bloc Habile à l’entr’ouvrir au vu de tous les indiscrets.
Pour ne pas rater les prochaines publications, abonnez-vous maintenant à la newsletter de Lettres du Vietnam :
Nous continuons notre série de traductions consacrée à Hô Xuân Huong, avec quatre poèmes dont le fameux « L’éventail ».
Les vietnamophones pourront comparer avec la version vietnamienne, qui est une transcription des caractères nôm en écriture moderne, réalisée par Maurice Durand.
Bùi Xuân Phái, 1986
Tự Tình (II)
Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom Oán hận trông ra khắp mọi chòm Mõ thảm không khua mà cũng cốc Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ Sau giận vì duyên để mõm mòm Tài tử văn nhân ai đó tá Thân này đâu đã chịu già tom
Confidence (II)
Les cris des coqs au loin déchirent l’air. L’œil parcourant tous les buissons, amère Je ne bats point le bois de mon chagrin : Pourquoi ce toc ? ni sonne le tocsin De ma peine pourtant quel tintamarre ! Leur bruit d’abord ajoute à mon cafard Me fâche enfin contre la destinée Qui me laisse finir comme un fruit blet. Où êtes-vous, lettrés si talentueux ? Ce corps serait donc si voûté, si vieux.
Đề Tranh tố nữ
Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình? Chị cũng xinh mà em cũng xinh Đôi lứa như in tờ giấy trắng. Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh. Xiếu mai chi dám tình trăng gió, Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh, Còn thú vui kia sao chẳng vẽ, Trách người thợ vẽ khéo vô tình.
Écrit sous un portrait
Quel âge ont-elles donc mes chères demoiselles ? Une même beauté réunit les deux sœurs Cent de leurs traits pareils comme deux feuilles blanches Mille ans n’effaceront leur éternel printemps Fruits mûrs qui n’oseraient l’amour de vent de lune Saule et roseau promis au destin si indigne. Mais l’autre délice dont le trait est absent ? Blâmons le peintre habile et pourtant insensible !
Vô âm nữ
Mười hai bà mụ ghét chi nhau Đem cái xuân tình vứt bỏ đâu Rúc rích thây cha con chuột nhắt Vo ve mặc mẹ cái ong bầu Đố ai biết đó vông hay trốc Còn kẻ nào hay cuống với đầu Thôi thế thì thôi thôi cũng được Nghìn năm càng khỏi tiếng nương dâu
À l’Asexuée
Les douze fées à son berceau, pour une discorde aux motifs obscurs, allèrent planter son gentil jardinet en un lieu inconnu.
Critch..critch.. le petit rat.. qu’il aille se faire voir ! Bzz..Bzz.. ta mère ! le moucheron qui fait enfler.
Je défie quiconque de trancher pour la feuille ou le tubercule. Quiconque d’en conclure au pétiole ou au périanthe.
Soit ! C’est aussi bien, qu’il en soit ainsi : toute une vie exemptée du titre de bru.
Vịnh cái quạt
Mười bảy hay là mười tám đây Cho ta yêu dấu chẳng rời tay Mỏng dầy chừng ấy chành ba góc Rộng hẹp dường nào cắm một cây Càng nóng bao nhiêu thời càng mát Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày Hồng hồng má phấn duyên vì cậy Chúa dấu vua yêu một cái này.
L’éventail en papier
Il compte dix-sept ou.. même dix-huit qui sait Laissez-moi le chérir le garder bien en main Mince épais il s’ouvre son triangle impeccable Large étroit quelque forme on enfonce un tenon Il fait chaud davantage il vous donne fraîcheur On l’aime jour et nuit aucune lassitude Peau rosée joues rouges encollées de kaki Le Roi aime et la Cour vénère cette chose
Nous continuons notre série de traductions consacrée aux poèmes de Hô Xuân Huong, avec cette fois deux joutes poétiques avec un certain Chiêu Hô.
Les vietnamophones pourront comparer avec la version vietnamienne, qui est une transcription des caractères nôm en écriture moderne, réalisée par Maurice Durand.
Mai Thu, 1951
Avec Chiêu Hô
Trách Chiêu Hổ (I)
Anh đồ tỉnh anh đồ say Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày Này này chị bảo cho mà biết Chốn ấy hang hầm chớ mó tay
Reproche à Chiêu Hô (I)
Mon maître est ivre ou mon maître est lucide Pourquoi vous taquinez la lune en plein midi ? Eh ! Eh ! je vous le dis c’est pour votre gouverne Dans l’antre du tigre ne mettez pas la main.
Chiêu Hổ hoạ lại
Này ông tỉnh này ông say Này ông ghẹo nguyệt giữa ban ngày Hang hầm ví bẵng không ai mó Sao có hầm con bỗng chốc tay ?
Réplique de Chiêu Hô
Tiens ! je suis ivre. Tiens ! je suis lucide. Tiens oui ! je taquine la lune en plein midi. Dans l’antre du tigre la main ne pourrais mettre ? Et ce petit tigre glissé dans votre main ?
Trách Chiêu Hổ (II)
Sao nói rằng năm lại có ba Trách người quân tử hẹn sai ra Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt Nhớ hái cho xin nắm lá đa
Reproche à Chiêu Hô(II)
Pourquoi promettre cinq et n’en mettre que trois ? Quoi ? Vous si distingué ne donnez pas le compte ! À vos moments perdus montez donc voir la lune Avec une poignée de feuilles de banian.
Chiêu Hổ hoạ lại
Rằng gián thì năm quý có ba Bởi người thục nữ tính không ra Ừ rồi thong thả lên chơi nguyệt Cho cả cành đa lẫn củ đa
Défense de Chiêu Hô
En espèces sonnantes on a trois qui font cinq ! Ô fille de vertu vous n’y trouvez le compte ? Bon ! aux moments perdus je monte voir la lune J’aurai toute une branche et les glands du banian.
Nous commençons notre série de traductions consacrée aux poèmes de Hô Xuân Huong.
Les vietnamophones pourront comparer avec la version vietnamienne, qui est une transcription des caractères nôm en écriture moderne, réalisée par Maurice Durand.1
Portrait de HXH par Bùi Xuân Phái
4 poèmes de Hô Xuân Huong
Con ốc nhồi
Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi Quân tử có thương thì bóc yếm Xin đừng ngó ngoáy lỗ chôn tôi
Éloge de l’escargot
Les parents m’ont donné la vie d’un escargot Nuit et jour à rouler dans les herbes fétides. Mon Seigneur, par amour, levez donc l’opercule Mais de grâce ôtez votre doigt de mon trou.
Lấy chồng chung
Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng Chém cha cái kiếp lấy chồng chung Năm thì mười họa chăng hay chớ Một tháng đôi lần có cũng không Cố đấm ăn xôi xôi lại hẩm Cầm bằng làm mướn mướn không công Thân này ví biết đường này nhỉ Thà trước thôi đành ở vậy xong
Partage de mari
Maudit soit notre sort nous autres concubines À transir quand l’une tire la couverture Le petit oiseau est rare, au petit bonheur Une ou deux fois par mois jamais trois c’est tout un On adhère au riz gluant mais le riz est poisseux À gages du mari qui ne paie point de gages Ah ! si l’on avait su les tenants d’un tel sort Mieux valut se résoudre à vivre comme avant
Khóc chồng làm thuốc
Văng vẳng tai nghe tiếng khóc gì Thương chồng nên nỗi khóc tỉ ti Ngọt bùi thiếp nhớ mùi cam thảo Cay đắng chàng ơi vị quế chi Thạch nhũ trần bì sao để lại Quy thân liên nhục tẩm mang đi Dao cầu thiếp biết trao ai nhỉ Sinh ký chàng ơi tử tắc quy
La veuve de l’apothicaire
Lointaine..sourde..nette une voix pleure : « Par amour pour lui il convient d’étouffer mes sanglots Comme il me manque ! si doux sucré son bâton de réglisse Si amère piquante – oh cher époux – sa tige de cannelle ! Les boutons la peau d’orange, torréfiés, sont à l’abandon L’angélique les grains de lotus, macérés, emportés ! Le coupe-racines… à qui vais-je le transmettre ? Las ! La vie est un prêt et la mort un rendu. »
Không chồng mà chửa
Cả nể cho nên hoá dở dang Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc Phận liễu sao đà nảy nét ngang Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa Mảnh tình một khối thiếp xin mang Quản bao miệng thế lời chênh lệch Không có, nhưng mà có, mới ngoan
Éloge de la criminelle
Trop de complaisance nous laisse inaccomplis. Savez-vous, mon amour, le chagrin qui m’afflige ?
De notre destinée je ne vois point la tête Pourquoi mon sort de fille est-il soudain barré ?2
Cette faute cent ans vous devrez la porter Le fruit de notre amour – souffrez que je le porte.
Au diable l’opinion, ses paroles iniques Avoir l’un sans l’autre voilà qui est habile.
Pour ne pas rater les prochaines publications, abonnez-vous maintenant à la newsletter de Lettres du Vietnam :
Maurice Durand : L’œuvre de la poétesse vietnamienne Hô Xuân Huong (EFEO, Paris, Adrien-Maisonneuve, 1968). Disponible en ligne sur Gallica. ↩︎
Comme l’explique Maurice Durand, HXH joue dans ces 2 vers avec la formation des caractères nôm : – Le trait vertical, ou descendant, ajouté au caractère « ciel, destinée » 天 (thiên) en modifie le sens pour devenir « mari » 夫 (phu). Autrement dit, « je ne vois pas venir la réalisation de notre union comme mari et femme ». – Le trait horizontal ajouté au milieu du caractère 了 (liễu), désignant « le saule » et par une métaphore classique « la jeune fille », le transforme en caractère « enfant » 子 (tử), suggérant la grossesse. Autrement dit « par cette grossesse hors mariage, mon avenir est compromis ». Ces 2 exemples parmi d’autres prouvent que la transcription des caractères nôm en écriture alphabétique oblige à sacrifier certains jeux de mots visuels. ↩︎
Après la traduction de L’industrie du mariage avec les Occidentaux, Lettres du Vietnam vous propose une nouvelle campagne de traduction consacrée à la poétesse Hô Xuân Huong.
Après ce bref portrait de Hô Xuân Huong, dont on sait peu de choses, vous pourrez découvrir un choix de 15 poèmes parmi ses plus connus, dans une traduction de Stéphane Wattier.
Couverture de la monographie de Nguyên Huu Tiên consacrée à HXH, 1926
Concepts sensibles : portrait de Hô Xuân Huong
L’acte de naissance de Hô Xuân Huong a rejoint les Unités perdues1. Elle meurt célèbre, vers 1820. Entre deux, des anecdotes et des légendes. Et surtout des poèmes où elle est deux fois concubine et liée à un certain Chiêu Hô. Selon la légende, Pham Dinh Hô, lettré de grand renom et mandarin de haut grade.
—
Hô veut dire « tigre ». Elle le défie en des joutes poétiques : il doit répliquer à un quatrain par un autre en reprenant les mots-clés et les rimes. Les deux lettrés sont liés comme deux sentences parallèles, dit le poète Xuân Diêu.
—
Hô Xuân Huong écrit en chinois et en nôm, transcription du vietnamien à partir de caractères chinois. Ecrire en nôm, c’est opter pour la langue vietnamienne contre l’idiome des lettrés. Aujourd’hui, on lit dans la transcription romanisée établie au XVIIème siècle par le missionnaire français Alexandre de Rhodes : le quốc ngữ, devenu écriture vietnamienne officielle.
—
La langue vietnamienne est tonale. Le ton donne sens à la syllabe. Six tons autorisent tous les sous-entendus.
—
Par exemple, dans le poème « La veuve de l’apothicaire » :
« Dao cầu / thiếp / biết / trao / ai / nhỉ »
coupe-racines / je / savoir / transmettre / qui / hein
À la métaphore déjà évidente du coupe-racines de l’apothicaire, l’auteure surajoute un jeu de mots : changez l’orthographe de la première syllabe, le ton de la deuxième et vous avez « giao cấu » : « copuler ».
–
Un cas limite pour la traduction en français : l’impressif. « Entre l’onomatopée et le concept clairement défini » (Maurice Durand). Courant en poésie et dans la langue parlée. Duo affectif-intellectuel, il forme un « complexe de suggestions » appréhensible, peu analysable et… irréductible au français.
–
Illustration :
– Dans le poème « La grotte de Cac Co », comment vous comprenez l’impressif « phập-phòm » ?
– Il caractérise généralement le bruit des vagues…
– Mais là, il s’agit du vent qui frappe les pins…
– Le mot « phập » signifie « d’un coup sec », un peu comme une flèche qui se fiche dans sa cible, tu vois ?
– Je vois ou j’entends ?
– Tu vois. C’est plutôt visuel. « Phòm », c’est sonore. Le mot n’existe pas seul, c’est un suffixe. Le ton descendant exprime un soupir.
– Du vent ?
– Non, du pin qui se redresse après la rafale.
–
Hô Xuân Huong écrit dans une forme fixe héritée de la poésie chinoise Tang : huit vers (ou la moitié) de sept syllabes (lire 2/2/3) avec distribution réglée des tons bằng (égal, continu), des tons trắc (inclinés, obliques) et des rimes, où les vers 3 et 4, 5 et 6 sont parallèles. Voilà tout pour la contrainte.
–
Le jeu des correspondances visuelles et sonores, du rythme et des parallèles produit un effet… soporifique quand il est commun et incantatoire chez Hô Xuân Huong. Envoûtant même, à voiler des allusions qu’on ne saurait voir. À susciter l’admiration des lettrés à la lecture et du peuple à l’audition. Bref ! à sauver leur compositrice.
–
Le poème « L’éventail » est admis à l’école : quelle habileté dans la description mes enfants ! Cette chose si banale en est transfigurée !
–
N’empêche. La seule évocation de son nom fait souvent rougir…ou cligner de l’œil. Ou scandalise : « Si nous attribuons de tels poèmes à une femme considérée comme « talentueuse » de notre Vietnam, ce serait faire honte à la femme ! »
–
Roseau tendre, frêle saule : deux métaphores courantes dans la poésie classique pour désigner la femme.
Le Livre des Rites dit : « une fille obéit à son père ; mariée, à son mari et veuve, à son fils aîné. »
Une maladie incurable : un des sept motifs qui autorisent à répudier son épouse. La dévergondée et le fruit de sa licence : piétinés par un éléphant !
–
Le poème « Écrit sous un portrait », dans une forme classique où le nu est banni, peut se lire comme un manifeste pour « l’autre délice ». La littérature populaire, elle, à travers ses contes grivois, ses chansons et ses proverbes se gêne beaucoup moins et inspire notre lettrée.
–
Hô Xuân Huong puise dans les ca dao (chansons populaires) : « Quel malheur d’être concubine / Repiquage / Labour / Et la nuit / Sans mari / Toute seule / Sans natte / Avec le froid qui mord. »
Dans les dictons : « être enceinte sans mari c’est habile / mariée et enceinte c’est commun ». Dans les croyances du folklore : Chiêu Hô ment comme Cuôi, le roi des menteurs qui réside sur la lune au pied d’un grand banian.
–
En vietnamien, le mot traduire veut dire aussi contaminer. Puissent ces poèmes ne pas rester en quarantaine.
Sources :
Maurice Durand : L’œuvre de la poétesse vietnamienne Hô Xuân Huong (EFEO, Paris, Adrien-Maisonneuve, 1968). Disponible en ligne sur Gallica.
Maurice Durand : Les impressifs en vietnamien (Bulletin de la société des Etudes Indochinoises, Tome XXXVI, Saïgon, 1961) Disponible en ligne sur Vietnamica.
John Balaban : Spring Essence ( Copper Canyon Press, Washington, 2000)
Huu Ngoc et Françoise Corrèze: Hô Xuân Huong et le voile déchiré (Fleuve Rouge, Editions en Langues étrangères, Hanoï, 1984)
Huu Ngoc et Françoise Corrèze : Anthologie de la littérature populaire du Vietnam (L’Harmattan, Paris, 1982)
Pour ne pas rater les prochaines publications, abonnez-vous à la newsletter de Lettres du Vietnam :
Henri Lefebvre, Les unités perdues, Manuella Editions, 2011. Sous forme d’évocations brèves et laconiques, Henri Lefebvre dresse une liste d’œuvres inachevées, disparues, oubliées, détruites ou parfois même jamais réalisées. ↩︎
Gérer le consentement
Nous utilisons des cookies pour optimiser notre site web et notre service. Le fait de ne pas les accepter peut avoir un effet négatif sur certaines caractéristiques et fonctions.
Fonctionnel
Toujours activé
L’accès ou le stockage technique est strictement nécessaire dans la finalité d’intérêt légitime de permettre l’utilisation d’un service spécifique explicitement demandé par l’abonné ou l’utilisateur, ou dans le seul but d’effectuer la transmission d’une communication sur un réseau de communications électroniques.
Préférences
L’accès ou le stockage technique est nécessaire dans la finalité d’intérêt légitime de stocker des préférences qui ne sont pas demandées par l’abonné ou l’internaute.
Statistiques
Le stockage ou l’accès technique qui est utilisé exclusivement à des fins statistiques.Le stockage ou l’accès technique qui est utilisé exclusivement dans des finalités statistiques anonymes. En l’absence d’une assignation à comparaître, d’une conformité volontaire de la part de votre fournisseur d’accès à internet ou d’enregistrements supplémentaires provenant d’une tierce partie, les informations stockées ou extraites à cette seule fin ne peuvent généralement pas être utilisées pour vous identifier.
Marketing
L’accès ou le stockage technique est nécessaire pour créer des profils d’internautes afin d’envoyer des publicités, ou pour suivre l’utilisateur sur un site web ou sur plusieurs sites web ayant des finalités marketing similaires.